Chủng ngừa trong chăm sóc toàn diện bệnh nhân tim mạch: Từ khuyến cáo đến thực hành lâm sàng

29/10/2026 3:03 PM

(Chinhphu.vn) - Bệnh truyền nhiễm có thể làm gia tăng nguy cơ biến chứng ở người mắc bệnh tim mạch, nhất là người cao tuổi và người có nhiều bệnh nền. Tại Đại hội Tim mạch Toàn quốc lần thứ 20 với sự đồng hành của GSK Việt Nam, các chuyên gia nhấn mạnh vai trò của dự phòng chủ động nhằm góp phần giảm nguy cơ biến chứng và nâng cao hiệu quả chăm sóc người bệnh.

Chủng ngừa trong chăm sóc toàn diện bệnh nhân tim mạch: Từ khuyến cáo đến thực hành lâm sàng - Ảnh 1.

Đại hội Tim mạch Toàn quốc lần thứ 20 do Hội Tim mạch học Việt Nam tổ chức.

Bệnh truyền nhiễm làm tăng gánh nặng ở người bệnh tim mạch

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 200.000 trường hợp tử vong liên quan đến bệnh tim mạch. Người cao tuổi mắc bệnh tim mạch, đặc biệt những người có nhiều bệnh nền, là nhóm có nguy cơ cao gặp tình trạng nhiễm trùng nặng và mất bù tim mạch.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhu cầu khám, điều trị bệnh tim mạch cũng đặt ra áp lực đáng kể đối với hệ thống y tế. Riêng Bệnh viện Chợ Rẫy ghi nhận hơn 1.000 lượt khám mỗi ngày đối với các bệnh lý tim mạch. Thực tế này cho thấy nhu cầu chăm sóc, theo dõi và quản lý bệnh tim mạch rất lớn, đồng thời đặt ra yêu cầu tăng cường các giải pháp dự phòng nhằm hạn chế biến chứng và nhu cầu nhập viện.

Tại Đại hội Tim mạch Toàn quốc lần thứ 20 do Hội Tim mạch học Việt Nam tổ chức ở Đà Năng mới đây, các chuyên gia đã chia sẻ những tình huống lâm sàng cho thấy nhiễm trùng có thể khiến tình trạng của người bệnh tim mạch đang ổn định diễn tiến nặng trong thời gian ngắn.

TS.BS Vũ Quỳnh Nga, Bệnh viện Tim Hà Nội đã cho biết về trường hợp một bệnh nhân nữ 67 tuổi mắc suy tim, tăng huyết áp và bệnh mạch vành. Trước khi nhập viện, người bệnh duy trì tình trạng ổn định với phác đồ điều trị và không phải nhập viện trong vòng 6 tháng.

Tuy nhiên, bệnh nhân đột ngột xuất hiện các triệu chứng ban đầu tưởng như cảm cúm thông thường, gồm ho, mệt và khó thở nhẹ trong khoảng một tuần. Tình trạng sức khỏe sau đó nhanh chóng diễn tiến nặng, buộc người bệnh phải nhập viện. Khi nhập viện, bệnh nhân có dấu hiệu nhiễm trùng hô hấp cấp kèm suy tim cấp. Kết quả xét nghiệm xác định tác nhân gây nhiễm trùng hô hấp là virus hợp bào hô hấp (RSV).

Trường hợp này cho thấy một đợt nhiễm trùng hô hấp có thể trở thành yếu tố khởi phát khiến bệnh tim mạch diễn tiến nghiêm trọng hơn, ngay cả khi người bệnh trước đó được kiểm soát tương đối ổn định.

Theo kết quả nghiên cứu được TS.BS. Vũ Quỳnh Nga cho biết tại hội nghị, tỷ lệ nhập viện do RSV ở người từ 65 tuổi trở lên có thể tăng đến 6,5 lần ở người mắc bệnh động mạch vành.

Bên cạnh các bệnh nhiễm trùng hô hấp nêu trên, một chủ đề khác được các chuyên gia trao đổi tại đại hội, dựa trên kinh nghiệm lâm sàng là vai trò của dự phòng Zona thần kinh ở những người bệnh có nguy cơ cao.

Chủng ngừa trong chăm sóc toàn diện bệnh nhân tim mạch: Từ khuyến cáo đến thực hành lâm sàng - Ảnh 2.

TS.BS Vũ Quỳnh Nga, Bệnh viện Tim Hà Nội cho biết, tỷ lệ nhập viện do RSV ở người từ 65 tuổi trở lên có thể tăng đến 6,5 lần ở người mắc bệnh động mạch vành.

TS.BS. Nguyễn Tất Đạt, Khoa Nội tim mạch, Bệnh viện Chợ Rẫy chia sẻ trường hợp một bệnh nhân nam sinh năm 1958 đã trải qua ghép tim và duy trì điều trị bằng thuốc ức chế miễn dịch trong thời gian dài. Đến tháng 9/2025, người bệnh xuất hiện các bóng nước ở vùng ngực trái, sau đó lan lên vùng vai trái và được chẩn đoán mắc Zona thần kinh.

Theo TS.BS. Nguyễn Tất Đạt, người mắc bệnh tim mạch có nguy cơ mắc Zona thần kinh cao hơn khoảng 34%. Gánh nặng của bệnh không chỉ nằm ở những tổn thương da trong giai đoạn cấp tính mà còn ở nguy cơ đau thần kinh sau Zona kéo dài. Đây cũng là biến chứng thường gặp của bệnh Zona và có thể ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống.

Các trường hợp lâm sàng được chia sẻ tại Đại hội cho thấy việc quản lý bệnh tim mạch không chỉ dừng ở kiểm soát huyết áp, điều trị suy tim hay bệnh mạch vành. Phòng ngừa các yếu tố có thể làm khởi phát biến chứng, trong đó có một số bệnh truyền nhiễm, cũng cần được xem xét trong quá trình chăm sóc người bệnh.

Vai trò của dự phòng trong chiến lược chăm sóc tim mạch toàn diện

Từ thực tiễn điều trị, các chuyên gia nhấn mạnh sự cần thiết của việc chuyển từ cách tiếp cận tập trung chủ yếu vào điều trị bệnh sang quản lý toàn diện, kết hợp kiểm soát bệnh nền với dự phòng các nguy cơ có thể làm sức khỏe người bệnh suy giảm.

"Một đợt nhiễm trùng có thể xóa đi thành quả của nhiều tháng kiểm soát bệnh tim mạch. Chúng ta cần bắt đầu với chiến lược 'quản lý và dự phòng toàn diện cho bệnh nhân tim mạch'. Trong đó, tiêm chủng được coi như một trụ cột trong quản lý toàn diện và là một phần của chăm sóc bệnh nhân tim mạch", GS.TS.BS. Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam, Chủ nhiệm Bộ môn Tim mạch - Trường Đại học Y Hà Nội, Viện trưởng Viện Tim mạch, Bệnh viện 19-8 chia sẻ tại Đại hội.

Điều này phù hợp với các đồng thuận và hướng dẫn chuyên môn quốc tế cũng như khuyến cáo trong nước. Tuyên bố đồng thuận lâm sàng của Hiệp hội Tim mạch châu Âu (ESC) và khuyến cáo của Hội Tim mạch Hoa Kỳ (ACC) năm 2025 đều xem tiêm chủng là một phần quan trọng trong chiến lược dự phòng tim mạch toàn diện đối với người bệnh thuộc nhóm nguy cơ cao.

Tại Việt Nam, Quyết định số 1983/QĐ-BYT của Bộ Y tế cũng đề cập vai trò của tiêm chủng trong dự phòng các đợt cấp và biến chứng tim mạch, bao gồm nhồi máu cơ tim và đột quỵ gây ra do nhiễm trùng.

Chủng ngừa trong chăm sóc toàn diện bệnh nhân tim mạch: Từ khuyến cáo đến thực hành lâm sàng - Ảnh 3.

GS.TS.BS. Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Hội Tim mạch Việt Nam, Chủ nhiệm Bộ môn Tim mạch - Trường Đại học Y Hà Nội, Viện trưởng Viện Tim mạch, Bệnh viện 19-8 cho biết, tiêm chủng được coi như một trụ cột trong quản lý toàn diện và là một phần của chăm sóc bệnh nhân tim mạch.

Đại hội năm nay đồng thời cập nhật khuyến cáo về chẩn đoán và quản lý tăng huyết áp (THA), trong đó có nội dung hướng dẫn về tiêm chủng. THA là yếu tố nguy cơ tim mạch quan trọng và thường đi kèm nhiều bệnh đồng mắc. Nhiễm trùng, đặc biệt nhiễm trùng hô hấp có thể làm tăng viêm hệ thống, stress oxy hóa, rối loạn chức năng nội mô và tình trạng tăng đông, từ đó gia tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, suy tim, đột quỵ và tử vong tim mạch.

Vì vậy, khuyến cáo người bệnh THA nên được đánh giá tình trạng tiêm chủng định kỳ dựa trên tuổi, bệnh đồng mắc, nguy cơ nhiễm trùng và tiền sử tiêm chủng. Các vaccine phế cầu, RSV, cúm, bạch hầu-uốn ván-ho gà, viêm gan B và các vaccine khác được chỉ định theo khuyến cáo hiện hành và các yếu tố nguy cơ cụ thể của từng cá nhân. THA đơn thuần không phải chống chỉ định vaccine và không cần đạt huyết áp mục tiêu mới tiêm. Với huyết áp 140-179/90-109 không nên trì hoãn tiêm chủng.

Việc đánh giá và tư vấn tiêm chủng cần được thực hiện phù hợp với tình trạng sức khỏe, tiền sử bệnh và chỉ định chuyên môn của từng người. Người bệnh không nên tự quyết định tiêm hoặc trì hoãn tiêm mà cần trao đổi với nhân viên y tế để được hướng dẫn cụ thể.

Từ các khuyến cáo chuyên môn và tình huống thực tế được chia sẻ tại Đại hội Tim mạch Toàn quốc lần thứ 20, có thể thấy dự phòng bệnh truyền nhiễm là một nội dung cần được quan tâm trong quá trình quản lý bệnh tim mạch. Việc kết hợp điều trị bệnh nền, theo dõi sức khỏe định kỳ và đánh giá nguy cơ nhiễm trùng có ý nghĩa trong chăm sóc người bệnh, nhất là người cao tuổi và người có nhiều bệnh đồng mắc.

Minh Thi

Top